Bệnh suy thận cấp tính là gì? mãn tính là gì? người bệnh nên ăn gì?

Bệnh suy thận cấp tính là một một loại bệnh thận diễn ra khi chức năng hoạt động của thận đang bị suy giảm nghiêm trọng do một số những nguyên nhân khác nhau gây ra. Lúc này khả năng lọc cầu thận sẽ bị giảm đi đáng kể. Người bệnh có thể bị tăng ure trong máu, nếu không được chữa trị kịp thời sẽ dẫn tới tử vong là rất cao.

Bệnh suy thận cấp tính là gì? mãn tính là gì? người bệnh nên ăn gì?

Suy thận là tình trạng chức năng hoạt động của thận bị suy giảm thì nó sẽ khiến các hoạt động ở bên trong cơ thể bị xáo trộn. Đặc biệt, khi bị  suy thận mạn thì rất khó để chữa trị. Vậy làm thế nào để nhận biết sớm cũng như phòng tránh căn bệnh nguy hiểm này.

Nguyên nhân gây bệnh suy thận

Bệnh suy thận là căn bệnh thường xảy ra do 2 nguyên nhân chính đó là cao huyết áp và viêm cầu thận cấp. Bên cạnh đó, nó cũng có thể là hệ quả của bệnh đi tiểu nhiều hoặc biến chứng của bệnh tiểu đường. Một số thói quen thiếu khoa học, chế độ dinh dưỡng chứa quá nhiều chất độc hại cũng sẽ khiến cho chức năng hoạt động của thận bị suy giảm nặng nề. Những người có thói quen sử dụng thuốc giảm đau với liều lượng hơn hoặc trong thời gian dài cũng dễ mắc bệnh suy thận hơn những người khác.

Trong thành phần của nước có ga, nước ngọt sẽ chứa nồng độ pH ở trong cơ thể dễ dàng bị thay đổi. Mặt khác, thận chính là cơ quan đảm nhiệm nhiệm vụ điều chỉnh độ pH. Nếu bạn có thói quen uống một số nước này trong thời gian liên tục và dài sẽ khiến cho thận phải chịu gánh nặng lớn, khả năng thận hư, suy thận cũng tăng cao hơn.

Thói quen ăn mặn hoặc bổ sung những thực phẩm chứa muối cao sễ dẫn tới tình trạng cao huyết áp. Lúc này lưu lượng máu bên trong thận sẽ khó lòng lưu thông được ổn định làm cho thận bị tổn hại nghiêm trọng. Nguy cơ suy thận sẽ rất cao.

Nhận biết dấu hiệu suy thận để tránh những rủi ro đối với sức khỏe

Khi bị suy thận, cơ thể sẽ rất khó tập trung, thường xuyên mệt mỏi, mất ngủ, suy giảm trí nhớ do chức năng thận suy giảm hoặc thiếu máu. Mỗi khi thở sẽ thấy trong miệng có vị tanh hoặc mùi hôi, ăn uống không thấy có cảm giác ngon miệng, buồn nôn, choáng váng, ngứa da, mất tập trung, đặc biệt rất sợ phải ăn thịt.

Bệnh suy thận cấp tính là gì? mãn tính là gì? người bệnh nên ăn gì?

Khi suy thận diễn ra đồng nghĩa với việc lượng nước bên trong cơ thể sẽ bị tích tụ không thể thoát ra ngoài. Nó sẽ khiến cho tay, chân, mặt bị phù, hụt hơi, khó thở. Cơ thể bị giữ nước nên xuất hiện một số triệu chứng như tăng huyết áp, phù, khó thở. Khi cơ thể bị phù, ấn vào sẽ thấy lõm, nhiều khi mí mắt bị sưng lên, cân nặng tăng lên nhanh chóng, số lần đi tiểu nhiều hoặc ít hơn so với bình thường. Một số người, nước tiểu còn có bong bóng, bọt hoặc đi tiểu ra máu.

Một số triệu chứng bệnh suy thận khác cũng có thể xuất hiện như da bị ngứa do hàm lượng canxi, phốt pho trong máu tăng cao. Tuy nhiên, với vài người bệnh dù cho hàm lượng này đã được điều chỉnh xong triệu chứng ngứa vẫn không có dấu hiệu thuyên giảm.

Bệnh suy thận cấp tính là gì?

Suy thận cấp tính là một một loại bệnh thận diễn ra khi chức năng hoạt động của thận đang bị suy giảm nghiêm trọng do một số những nguyên nhân khác nhau gây ra. Lúc này khả năng lọc cầu thận sẽ bị giảm đi đáng kể. Người bệnh có thể bị tăng ure trong máu, nếu không được chữa trị kịp thời sẽ dẫn tới tử vong là rất cao.

Nguyên nhân chính gây suy thận cấp: là do mất nước, mất muối quá nặng, mất máu, bỏng nặng, biến chứng sau phẫu thuật, suy tim, dị ứng, nhiễm khuẩn, tan máu, nhiễm độc… Một số trường hợp bị viêm cầu thận cấp, viêm ống thận cấp, tắc mạch thận, viêm bể thận cấp cũng có nguy cơ bị suy thận cấp.

Triệu chứng suy thận cấp: Người bệnh lúc này sẽ xuất hiện một số triệu chứng cụ thể như hàm lượng creatinine, ure trong máu tăng cao, lượng kiềm toàn, nước bị rối loạn thậm chí là lượng kali trong máu cũng tăng cao hơn so với bình thường. Hơn nữa, nếu không được chữa trị kịp thời thì người bệnh có thể bị ngưng tim, phù phổi cấp do lượng kali trong máu đang tăng cao.

Bệnh suy thận mạn tính là gì?

Suy thận mạn chính là kết quả do số lượng những đơn vị chức năng của thận bị suy giảm, khiến cho chức năng của thận bị hạn chế. Khi mà mức độ lọc cầu thận giảm chỉ còn 60ml/ phút sẽ gây ra bệnh suy thận mãn. Lúc này, thận sẽ không thể nào duy trì được chức năng cân bằng và gây ra một loạt những rối loạn về lâm sàng, sinh hóa ở một số những cơ quan bên trong cơ thể.

Nguyên nhân gây suy thận mạn: Căn bệnh này có thể do một số nguyên nhân khác nhau gây ra như mắc bệnh mạch thận, viêm thận bể thận mãn, viêm cầu thận mãn, bệnh thận bẩm sinh chẳng hạn như thận chuyển hóa, loạn sản thận, thận đa nang.

Triệu chứng bệnh suy thận mạn: Người mắc bệnh suy thận mạn tính có một số triệu chứng cụ thể là cơ thể bị thiếu máu ngày càng nghiêm trọng, suy tim, tăng huyết áp, tiêu chảy, viêm ngoại tâm mạc, xuất huyết, nôn. Ngoài ra, hiện tượng chảy máu dưới da, chảy máu chân răng, chảy máu mũi cũng sẽ diễn ra với tần suất nghiêm trọng hơn. Một số trường hợp có thể bị co giật, tâm thần rối loạn dẫn tới hôn mê sâu.

Bệnh suy thận cấp tính và suy thận mãn tính khác nhau như thế nào?

Suy thận cấp là hội chứng gây ra bởi nhiều nguyên nhân có thể ngoài thận hoặc tại thận, làm suy sụp và mất chức năng tạm thời cấp tính của cả hai thận do ngừng hoặc suy giảm nhanh chóng mức lọc cầu thận. Biểu hiện lâm sàng là thiểu niệu hoặc vô niệu xảy ra cấp tính, tiếp theo là tăng ni tơ phi protein trong máu, rối loạn cân bằng nước – điện giải, cân bằng kiềm – toan, phù và tăng huyết áp. Suy thận cấp có tỉ lệ tử vong cao, nhưng nếu được chẩn đoán và điều trị kịp thời thì chức năng thận có thể hồi phục hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn.

Suy thận mạn là hậu quả cuối cùng của các bệnh thận tiết niệu mạn tính làm chức năng thận giảm xút dần dần tương ứng với số lượng nephron của thận bị tổn thương dẫn đến xơ hóa và mất chức năng không hồi phục. Biểu hiện lâm sàng là mức lọc cầu thận giảm dần không hồi phục, tăng ni tơ phi protein máu, rối loạn cân bằng nội môi, rối loạn các chức năng nội tiết của thận. Các triệu chứng trên nặng dần tương ứng với giảm mức lọc cầu thận, cuối cùng dẫn đến suy thận giai đoạn cuối, lúc này hai thận mất chức năng hoàn toàn, đòi hỏi phải điều trị thay thế thận.

Từ hai định nghĩa trên có thể thấy rõ sự khác nhau giữa hai hội chứng:

+ Nguyên nhân: STC có ba nhóm nguyên nhân (trước thận, tại thận, sau thận). STM là hậu quả cuối cùng của tất cả các bệnh thận-tiết niệu mạn tính (Mạch máu thận, cầu thận, ống-kẽ thận, bệnh đường tiết niệu, bệnh thận bẩm sinh di truyền).

+ Hoàn cảnh xuất hiện: STC xảy ra cấp tính, đột ngột trên một thận trước đó có chức năng bình thường. STM xảy ra từ từ trên người đã có bệnh thận tiết niệu mạn tính.

+ Tiến triển của chức năng thận: STC mất chức năng thận chỉ là tạm thời, có thể hồi phục hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn nếu bệnh nhân không tử vong. STM mất chức năng thận từ từ không có khả năng hồi phục, sớm hay muộn sẽ tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối.

+ Tiến triển lâm sàng: STC lâm sàng diến biến qua 4 giai đoạn (khởi đầu, thiểu vô niệu, đái trở lại, hồi phục). STM tiến triển nặng dần, tùy theo cách phân loại chia ra các giai đoạn dựa vào suy giảm mức lọc cầu thận.

+ Hậu quả: STC nếu bệnh nhân không tử vong chức năng thận hồi phục hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn. STM sớm hay muộn sẽ dẫn tới suy thận giai đoạn cuối đòi hỏi phải điều trị thay thế thận.

Top 10 dấu hiệu bệnh suy thận cần nhận biết sớm để chữa trị kịp thời

Những thay đổi khi đi tiểu: Thận tạo ra nước tiểu, do vậy khi thận bị hỏng, có thể có những thay đổi đối với nước tiểu như sau: Bạn có thể phải thức dậy vào đêm để đi tiểu. Nước tiểu có bọt hay có nhiều bong bóng. Bạn có thể đi tiểu nhiều lần hơn bình thường, hay lượng nước tiểu nhiều hơn bình thường và nước tiểu có màu nhợt. Số lần bạn đi tiểu ít hơn bình thường, hay lượng nước tiểu ít hơn bình thường, nước tiểu có màu tối. Nước tiểu của bạn có thể có máu. Bạn có thể cảm thấy căng tức hay đi tiểu khó khăn.

Dưới đây là mô tả của bệnh nhân: “Khi bạn vào nhà vệ sinh nhiều hơn, bạn không thể đi tiểu hết. Và sau đó bạn vẫn cảm thấy giống như sự căng tức xuôi xuống dưới, thật sự là rất căng tức”. “Nước tiểu là thứ đầu tôi bắt đầu để ý đến. Sau đó tôi vào nhà vệ sinh thường xuyên hơn và khi vào nhà vệ sinh, tôi không thể đi tiểu. Bạn nghĩ rằng bạn cần phải đi tiểu, nhưng khi vào đến nhà vệ sinh: kết quả là chỉ hai hay ba giọt mà thôi”. “Tôi đi tiểu ra máu. Nước tiểu có màu rất sẫm giống như màu nho. Và khi tôi tới bệnh viện khám, ở đó họ lại nghĩ rằng tôi nói dối về màu của nước tiểu”.

Phù: Những quả thận bị hỏng không loại bỏ chất lỏng dư thừa nữa, do vậy chất lỏng tích tụ trong cơ thể bạn khiến bạn bị phù ở chân, cổ chân, bàn chân, mặt và hai tay.

Mô tả của bệnh nhân: “Tôi nhớ rằng tôi bị phù rất nhiều ở cổ chân. Cổ chân của tôi to đến nỗi tôi không thể đi giày nữa”. “Với chị tôi, tóc cô ấy bắt đầu rụng, cô ấy gầy đi, nhưng mặt thì thực sự là căng phồng lên, bạn biết đấy mọi thứ cứ giống như vậy cho đến khi cô ấy phát hiện ra rằng cô ấy mắc bệnh”. “Đi làm việc vào một buổi sáng, cổ chân tôi sưng phồng lên, thực sự là phồng to, và tôi rất rất mệt khi đi bộ đến bến đỗ xe bus. Và lúc đó tôi biết rằng tôi phải đi khám bác sĩ”.

Mệt mỏi: Những quả thận khỏe mạnh tạo ra một hormon gọi là erythropoietin (đọc là a-rith’-ro-po’-uh-tin), hormon này thông báo cho cơ thể tạo ra các tế bào hồng cầu mang oxy. Khi thận bị hỏng (suy), chúng tạo ra ít erythropoietin hơn. Do vậy cơ thể bạn có ít các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy hơn, nên các cơ và đầu óc của bạn mệt đi nhanh chóng. Tình trạng này được gọi là thiếu máu. Và bệnh này có thể điều trị được.

Mô tả của bệnh nhân: “Tôi đột ngột cảm thấy mệt lả và không còn một chút tỉnh nào.” “Tôi đã ngủ rất nhiều. Tan sở tôi về nhà và lên giường đi ngủ ngay”. “Nó như thể lúc nào bạn cũng cực kì mệt mỏi. Bị mệt, và sức khỏe của bạn như bị chảy đi hết thậm chí khi bạn chẳng làm gì cả”.

Ngứa/phát ban ở da: Thận loại bỏ các chất thải ra khỏi máu. Khi thận bị suy, sự tích tụ của các chất thải này trong máu của bạn có thể gây ra những trận ngứa ở mức độ nặng.

Mô tả của bệnh nhân: “Đó không hẳn chỉ là một trận ngứa ở da, mà nó chạy dọc xương. Tôi đã phải dùng bàn chải mà đào lên da thịt. Lưng của tôi rớm máu do bị cào quá nhiều.” “Da tôi đã bị rách. Tôi đã rất ngứa và gãi rất nhiều”.

Vị kim loại ở trong miệng/hơi thở có mùi amoniac: Sự tích tụ của các chất thải trong máu (được gọi là chứng urê huyết) có thể khiến thức ăn có vị khác đi và khiến hơi thở có mùi. Bạn cũng có thể để ý thấy rằng bạn không thích ăn thịt nữa, hay bạn giảm cân bởi vì bạn cảm thấy không thích ăn.

Mô tả của bệnh nhân: “Bạn sẽ cảm thấy có vị lợm ở trong mồm bạn, Gần giống như bạn vừa uống sắt vậy.” “Bạn không còn thèm ăn như trước đây nữa”. “Trước khi tôi bắt đầu lọc máu, tôi đã giảm khoảng 10 pound trọng lượng”.

Buồn nôn và nôn: Sự tích tụ dữ dội của các chất thải trong máu (chứng ure huyết) cũng có thể gây nên tình trạng buồn nôn và nôn. Chán ăn có thể dẫn tới sút cân.

Mô tả của bệnh nhân: “Tôi có rất nhiều cơn ngứa, và tôi bị nôn, nôn tất cả mọi thứ ra ngoài. Tôi không thể giữ bất cứ đồ ăn thức uống nào ở lại trong dạ dày cả.” “Khi tôi nôn, tôi không thể ăn, và lúc đó tôi đã có một thời gian khó khăn khi uống thuốc hạ huyết áp.”

Thở nông: Sự khó thở của bạn có thể có liên quan tới thận theo 2 cách sau, thứ nhất đó là chất lỏng dư thừa trong cơ thể của bạn tích tụ trong hai lá phổi. Và thứ hai, chứng thiếu máu (sự thiếu hụt các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy) có thể khiến cơ thể bạn đói oxy và sinh ra chứng thở nông.

Mô tả của bệnh nhân: “Những lúc tôi thở nông, điều đó sẽ làm tôi sợ hãi. Tôi nghĩ có lẽ tôi có thể ngã hoặc sẽ có cái gì đó xảy ra với tôi, do vậy thường thì tôi đi tìm một chỗ để ngồi trong chốc lát”. “ Tôi không thể ngủ vào ban đêm, tôi không thể thở được, nó giống như tôi bị chết chìm. Và, tôi không thể bước đi đâu được nữa. Điều đó thật là tệ”. “Bạn đi lên tầng trên để dọn phòng và lúc đó bạn hết thở được nữa, hay khi bạn làm việc bạn trở nên mệt mỏi và bạn phải ngưng công việc lại”.

Cảm thấy ớn lạnh: Thiếu máu có thể khiến bạn cảm thấy lúc nào cũng lạnh, thậm chí khi bạn đang ở trong phòng có nhiệt độ ấm.

Mô tả của bệnh nhân: “Tôi để ý thấy rằng thỉnh thoảng, tôi thực sự lạnh, lúc đó tôi có những cơn rùng mình”. “Đôi khi tôi trở nên rất rất lạnh. Thời tiết lúc đó có thể nóng, và tôi thì vẫn lạnh”.

Hoa mắt chóng mặt và mất tập trung: Thiếu máu liên quan đến suy thận nghĩa là não của bạn sẽ không được cung cấp đủ oxy nữa. Điều này có thể dẫn tới các vấn đề về trí nhớ, gây ra sự mất tập trung, hoa mắt và chóng mặt.

Mô tả của bệnh nhân: “Tôi nhớ là tôi đã đề cập với vợ tôi về trí nhớ của tôi rằng tôi không thể nhớ những gì tôi đã làm từ tuần trước, hay có thể là 2 hôm trước thôi. Tôi thực sự không thể tập trung, vì tôi thích chơi giải ô chữ và đọc nhiều, nhưng không thể tập trung được.” “Tôi đã luôn luôn mệt mỏi và hoa mắt chóng mặt.” “Tình trạng đó xấu tới độ, tôi đang làm việc, và thật đột ngột tôi hoa mắt chóng mặt. Do vậy tôi đã nghĩ rằng có lẽ là huyết áp của tôi hay bệnh tiểu đường của tôi trở nên xấu đi. Đó là những gì mà tôi đã nghĩ”.

Đau chân/cạnh sườn: Một số người mắc các bệnh về thận có thể bị đau ở lưng hay sườn điều này là do thận bị ảnh hưởng. Bệnh thận đa nang, có thể khiến các nang trong thận chứa đầy chất lỏng và to lên, và đôi khi thì gan, cũng có thể gây đau.

Mô tả của bệnh nhân: “Khoảng 2 năm trước, tôi lúc nào cũng vào nhà vệ sinh, và phần thấp của lưng luôn luôn đau đớn, tôi tự hỏi vì sao lại có chuyện như vậy… các bác sĩ đã chuẩn đoán rắng đó là do các vấn đề ở thận”. “Và sau đó bạn phải thức dậy trong đêm, lúc đó bạn bị đau ở sườn và lưng, bạn không thể nhúc nhích được.” “Vào ban đêm, tôi hay bị đau vùng sườn. Nó còn tệ hơn là đau nhức do làm việc nặng.”

Cách chữa suy giảm chức năng của thận hiệu quả bằng khí công

Trong các bài tập chữa bệnh suy thận bằng khí công thì bài tập kết nối tâm thận được nhiều người chọn lựa luyện tập. Cách thực hiện bài tập này cũng rất đơn giản: Người bệnh chỉ cần ngồi thiền yên tĩnh dưới sàn sau đó quan sát và thở hơi đan điền (ở khu vực khoang bụng dưới ) để cho tâm thận được yên ắng. Người bệnh tiến hành hít sâu để vận khí xuống Đan điền và thở ra để đẩy luồng khí sang Mệnh môn, mỗi lần thực hiện thở khoảng 20 nhịp thở. Ngoài bài tập kết nối tâm thận thì bài tập thông chu thiên cũng có nhiều người thực hiện. Bệnh nhân tiến hành hít vào từ ấn đường sau đó dẫn khí sang Mệnh môn và dần cảm nhận được luồng khí đang chạy trong cột sống xông lên não.

Người bị bệnh suy thận nên và không nên ăn gì?

Theo Ths. BS Nguyễn Văn Tiến – Viện Dinh dưỡng Quốc gia, khả năng bài tiết lọc chất độc của người bị suy thận rất kém. Vì vậy, người suy thận luôn phải chú ý tới chế độ ăn nhất là lượng muối. Suy thận cấp là một hội chứng được biểu hiện bằng sự giảm nhanh của mức lọc cầu thận với thể tích nước tiểu <0,5 ml/kg/giờ kéo dài trên 6 giờ, và có nồng độ creatinin huyết tương tăng thêm 0,5mg/dl (44µg/l) hoặc trên 50% so với giá trị bình thường (trên 130µg/l) ở người trước đó chức năng thận bình thường.

Hậu quả: ứ đọng các sản phẩm chuyển hoá của nitơ, rối loạn cân bằng nước, điện giải, axit-bazơ.
Suy thận mạn là tổn thương không phục hồi của các đơn vị thận, làm chức năng thận mất dần và vĩnh viễn theo thời gian. Quá trình suy thận mạn diễn biến kéo dài, âm ỉ với những triệu chứng: sưng phù, mệt mỏi, xanh xao, đau đầu, chán ăn, buồn nôn, tiểu nhiều lần… Ở giai đoạn cuối, người bệnh đứng trước nguy cơ tử vong do các biến chứng.

Về chế độ dinh dưỡng, người suy thận không nên ăn quá nhiều thức ăn giàu canxi, đạm như: nghêu, sò, tôm, cua… Đặc biệt, việc ăn mặn sẽ dẫn tới cơ thể giữ nước, làm tăng gánh nặng cho thận. Người bệnh thận chỉ nên ăn từ 2-4g muối/ ngày và giảm lượng đạm tiêu thụ tùy thuộc vào mức độ suy thận.

Bên cạnh đó, uống nhiều nước là giải pháp hiệu quả giúp thận lọc chất độc, cặn bã ra ngoài. Nguyên tắc chung là nước phải đủ cho cơ thể (mỗi người trung bình cần 2,5 lít nước/ngày). Nếu nước tiểu ít, phải uống nhiều nước. Giai đoạn suy thận nặng, bệnh nhân hạn chế uống nước để giảm áp lực cho thận và không dùng nhiều đồ uống lợi tiểu như trà, cà phê.

Việc điều trị suy thận được tiến hành theo 2 hướng: điều trị bảo tồn (chế độ dinh dưỡng hợp lý kết hợp dùng thuốc) và điều trị thay thế (lọc máu ngoài thận, ghép thận). Tùy theo giai đoạn của suy thận (cấp, hay mạn tính,..), tuổi của bệnh nhân mà có chế độ dinh dưỡng phù hợp.

Chế độ dinh dưỡng của người trưởng thành bị suy thận như sau:

Suy thận cấp, giai đoạn trước lọc thận nên ăn gì?

  • Về năng lượng: 35 kcal/kg cân nặng/ngày hoặc từ 1800- 1900 kcal/ngày. Lượng glucid là 310 – 350 gam/ngày.
  • Về protein dưới 0,6 g/kg cân nặng/ngày hay lượng protein dưới 33 g/ngày. Tỷ lệ protein động vật/protein tổng số trên 60%.
  • Về lipid: năng lượng do lipid cung cấp đạt 20-25% tổng năng lượng/ngày hay lượng lipid là 40-50 g/ngày. Trong đó acid béo chưa no 1 nối đôi chiếm 1/3, nhiều nối đôi 1/3 và acid béo no chiếm 1/3 tổng số lượng lipid.
  • Đảm bảo cân bằng nước và điện giải: Ăn nhạt tương đối lượng Natri dưới 2000mg/ngày. Hạn chế các thực phẩm giàu kali, lượng kali là 1000 mg/ngày. Hạn chế các thực phẩm giàu phosphat, lượng phosphat là 600 mg/ngày.
  • Hạn chế nước ăn và uống khi có chỉ định của bác sĩ, nhưng lượng nước trong ngày cung cấp cho cơ thể được tính như sau: V nước = V nước tiểu + V dịch mất bất thường (sốt, nôn, ỉa chảy) + 300 – 500 ml (tùy theo mùa). Cung cấp đủ vitamin và khoáng chất. Ăn từ 4 – 6 bữa/ngày.

Suy thận mạn tính giai đoạn 1 và giai đoạn 2 nên ăn gì?

Về năng lượng: 35 kcal/kg cân nặng/ngày hoặc từ 1800 – 1900 kcal/ngày. Lượng glucid là 313 – 336 gam/ngày.

Về protein từ 0,6 – 0,8 g/kg cân nặng/ngày hay lượng protein dưới 40-44 g/ngày. Tỷ lệ protein động vật/protein tổng số ≥ 60%.

Về lipid: năng lượng do lipid cung cấp đạt 20-25% tổng năng lượng/ngày hay lượng lipid là 40-50 g/ngày. Trong đó acid béo chưa no 1 nối đôi chiếm 1/3, nhiều nối đôi 1/3 và acid béo no chiếm 1/3 tổng số lượng lipid.

Đảm bảo cân bằng nước và điện giải: Ăn nhạt tương đối lượng Natri dưới 2000mg/ngày. Hạn chế kali khẩu phần khi kali máu trên 6 mmol/L (lượng kali là 2000-3000 mg/ngày). Hạn chế hoặc sử dụng vừa phải các thực phẩm giàu kali. Hạn chế các thực phẩm giàu phosphat, lượng phosphat dưới 1200 mg/ngày.

Hạn chế nước ăn và uống khi có chỉ định của bác sĩ, nhưng lượng nước trong ngày cung cấp cho cơ thể được tính như sau: V nước = V nước tiểu + V dịch mất bất thường (sốt, nôn, ỉa chảy) + 300 – 500 ml (tùy theo mùa). Cung cấp đủ vitamin và khoáng chất. Ăn 4 bữa/ngày.

Thức ăn nên hạn chế: Muối (ăn nhạt nếu có phù, mỗi ngày chỉ nên dùng khoảng 2 thìa nhỏ nước mắm); ăn hạn chế đạm thực vật như đậu đỗ, lạc, vừng, tránh ăn nội tạng động vật; đồ nướng, rán, thực phẩm giàu kali (cam, chuối, nho, đào, chanh, bưởi, lạc, hạt điều, dẻ, socola); thực phẩm giàu phốt-pho (pho-mat, cua, lòng đỏ trứng, thịt thú rừng, đậu đỗ…).

Thức ăn được khuyến khích: Chất bột (khoai lang, khoai sọ, miến dong); chất đường (đường, mía, mật ong, hoa quả ngọt); chất béo (có thể ăn khoảng 30 – 40g/ngày, ưu tiên chất béo thực vật); bổ sung canxi (sữa); bổ sung vitamin (nhóm B, C, acid folic…).

Nước uống: Lượng nước uống hàng ngày nên sử dụng = 300 đến 500ml (tùy theo mùa) + lượng nước tiểu hàng ngày + lượng dịch mất bất thường, hạn chế đồ uống có ga, cồn (bia, rượu…).

Cập nhật: 00:42 13/09/2017 Theo ...

Theo dõi cộng đồng trên facebook